Tuesday, March 27, 2018

Nửa Thế Kỷ Việt Nam - Châu Về Hiệp Phố (*)


Trong cuốn NTK.VN tôi có dành tám chương viết về tù cải tạo. Ở đây xin dành một chương có niềm vui và hạnh phúc sau một hành trình đày đọa, đau đớn và tủi nhục của quan chức quân cán chính VNCH trong các trại tập trung cải tạo...


 CHÂU VỀ HIỆP PHỐ (*)
(Chương XVII)

Xin từ biệt một cảnh đời,
tường xây cửa sắt tình người lạnh căm
Xin từ biệt những tháng năm
mồ hôi máu lệ nhục nhằn đắng cay.

Có biết bao chuyện hợp tan trên đời – thương hải tang điền – xưa nay từng xé lòng bứt ruột thế nhân. Trong đời tôi, đã bao lần trầm lòng trước những cuộc hợp tan não nuột – Ngày rời bỏ quê hương bản quán ra đi biền biệt đến bây giờ; ngày xách túi hành trang với vài bộ quần áo, từ giã gia đình, đành đoạn bỏ lại những yêu thương bịn rịn để ra đi “trình diện” vào tù, từ đó tôi cứ mãi nôn nao với những lần hợp tan, tan hợp. Khi rời Quảng Ninh về Thanh Hóa, nhìn lại phía sau núi rừng trùng điệp heo hút, tôi cứ mãi chập chờn với lẽ thịnh suy. Người cộng sản không thể lường trước được viễn ảnh của việc đưa hàng nghìn tù từ trong Nam ra rồi lại phải đưa trả về Nam.

Nhưng lần rời khỏi cái “địa ngục trần gian” trại Lam Sơn, Thanh Hóa sau hơn hai năm tủi nhục, đắng cay, mồ hôi nước mắt và sinh mệnh con người, tôi cứ mãi miên man với niềm vui, nỗi buồn, với khổ đau và hạnh phúc, như xen lẫn, hòa trộn vào nhau trong giờ ăn giấc ngủ, trong tim óc, trong cuộc sống của tôi, cho tới mãi hơn 20 năm sau, khi ngồi viết lại những dòng hồi ức này vẫn như chuyện mới ngày hôm qua hôm trước.

Người ta xây thiên đường hạ giới bằng ảo tưởng, để chúng tôi, cùng nguồn cội Âu Cơ bị đẩy vào địa ngục trần gian có thật, bởi cuồng tín giáo điều và lòng thù hận. Năm năm với hầm phân hố xí, với xích sắt, gông cùm, với khai hoang, phá rẫy, đắp bờ, đào ao, làm nhà, dựng trại, xây xà lim; Năm năm bo bo, khoai sắn, chén nước canh, nước muối, chén cơm gạo hẩm, bữa có bữa không, đói rách, khổ nhục, đọa đày... Giữa bóng đêm mù mịt ấy, ánh sáng lờ mờ phát ra từ hai bóng đèn đoàn tàu Xuyên Việt rọi sáng niềm tin và hy vọng – “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm...” – Đoàn tàu ngày nào chở những đoàn tù bất hạnh ấy ra đi, nay đang chở họ trả về phương Nam, nơi có những bà mẹ già, có những người vợ trẻ, có những đàn con thơ, có bao người thân thuộc, và có cả một đất trời đang ngày đêm chờ đợi, ngóng trông. “Chúng ta sẽ về Nam”.

Chúng ta sẽ về Nam. Đó là điều tôi đã quả quyết với nhiều anh em trong những lúc bàn luận riêng tư. Thời gian còn ở phân trại B, tù cải tạo được yêu cầu khai thân nhân và địa chỉ ở nước ngoài, nếu có. Một số anh em không dám khai vì sợ bị gài bẫy, sợ bị đánh lừa để “người ta” tìm cách chất chồng thêm tội, có lý do kéo dài thêm thời gian giam giữ. Nhưng cũng có người tin tưởng “sẽ có chuyện gì đây”. Họ nghĩ ai có thân nhân ở nước ngoài chắc sẽ được cho xuất cảnh. Họ mạnh dạn liệt kê đầy đủ. Tôi không sợ bị gài bẫy, cũng không nghĩ sẽ được tống xuất, nhưng tôi cũng nghĩ chắc “có chuyện gì đây”. Tôi ghi ra hết những người có liên hệ họ hàng mà tôi biết đang ở nước ngoài. Tôi không có một thân thuộc trực hệ nào, nên tôi chỉ ghi một người cháu gọi tôi là cậu ruột ở Pháp và hai người bà con xa ở Mỹ. Chỉ nguyên sự việc này đủ là một đề tài để suy luận, bàn tán.

Trong một lần “tán gẫu mà chơi”, tôi đưa ra lập luận: Nếu chúng ta không chết, chúng ta phải được thả về, mà về thì chắc chắn chúng ta không thể sống với chế độ này được, và đã chắc gì chế độ để cho chúng ta sống chung. Như vậy chúng ta phải ra nước ngoài, và chế độ cũng muốn chúng ta đi cho nhẹ gánh. Điều kiện thuận lợi nhất để ra đi là phải có thân nhân ở nước ngoài bảo lãnh.  Nghe tôi nói có vẻ xuôi tai, hai người ngồi cạnh tôi, một là bạn tôi, và người thứ hai là anh Ng. V. K. (Chánh Sở T.P. BTL/CSQG) sau đó nhắn vợ ra thăm để dặn người bạn đời của mình hãy về thu xếp mà vượt biên, tìm tương lai cho con cái. Cả hai bà vợ làm theo lời chồng, làm theo ý muốn của người bạn “trăm năm”. Nhưng sau khi đến được bến bờ tự do, trong hoàn cảnh bơ vơ đơn chiếc, cả hai bà đi tìm bến đậu. Khi biết chuyện, tôi cứ mãi băn khoăn. Không biết có phải vì suy nghĩ vu vơ của mình mà nên nỗi bẽ bàng cho người đi kẻ ở.

Điều mong muốn của tôi đã trở thành niềm tin sắt đá “Chúng ta sẽ về Nam”, cuối cùng đã thành sự thật. Không khí sinh hoạt nề nếp sắt máu của cả trại tù bỗng vỡ bùng, xô ngã mọi trật tự chặt chẽ qua một hệ thống quản lý khắt khe từ Ban Giám thị xuống đến “Ban tự quản” gồm thi đua, trật tự, đội tưởng và tổ trưởng.

Trong thời gian mấy tháng trước đó Ban Giám thị đã tìm mọi cách đính chính, trấn an và trấn áp dư luận về việc chuyển trại về Nam. Chính những con người trong “ban tự quản” từng theo dõi, báo cáo những ai phổ biến “hot news”, loan truyền “tin thất thiệt”, giờ phút đó họ ngỡ ngàng, có lẽ cả hoang mang giao động. Quyền lực, với chút đặc ân, đặc lợi đã vuột khỏi tầm tay.

Hot news trong trại tù phải được kể là một món ăn tinh thần bồi bổ nhất. Khi một người được thăm nuôi về đến buồng, nhiều anh em xúm lại, không phải để “xơ múi” miếng bánh, cục kẹo, mà là để nghe ngóng tin sốt dẻo. Có những hot news nghe là tin được, tin ngay như trường hợp vợ  anh A cho biết anh B. cạnh nhà đã được chuyển từ ngoài Bắc về Rừng Lá, gia đình vừa đi thăm tuần trước. Cũng có những tin nghe xong phải để đó, phải coi lại. Tin ngay có khi bị hố! Như trường hợp của tôi. Hồi ở chung buồng giam tại phân trại B Thanh Hóa, Ông Đ/tá (Thiết giáp) nói với tôi, sáng 30 tháng Tư ông ấy có mặt tại Tòa đại sứ Mỹ ở đường Thống Nhất, khi biết mission di tản chấm dứt, Nghị sĩ Đặng Văn Sung, Chủ nhiệm báo Chính Luận đã rút súng tự tử ngay tại sứ quán Mỹ. Tôi tin, tin lắm vì đó là lời nói trực tiếp của một con người đáng tin, không có gì để phân vân ngờ vực. Sang đến Hoa Kỳ, mấy năm sau đọc báo, tôi mới hay điều tôi tin chắc như bắp suốt bao năm ròng chỉ là tin vịt. NS Đặng Văn Sung đã được Mỹ đưa đi trước giờ thứ hai mươi lăm.

Một lần khác, tôi nghe một bạn tù hát mấy câu “Bao năm qua rồi còn mãi ra đi. đi theo loanh quanh cho đời mỏi mệt, trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về”. Cả nhạc và lời hay quá, từng chữ từng câu đều đắt giá. Tôi hỏi và được trả lời là của nhạc sĩ Phạm Duy. Rồi người bạn tù kể tiếp, nhạc sĩ Phạm Duy chết rồi. Chết trong khi đang ôm đàn, đang đứng trên sân khấu hát một ca khúc thương xót thân phận đồng bào ở lại và những người tù đang chịu đựng khổ đau. Vì quá xúc động, ông bị ngất xỉu trên sân khấu và một lúc sau ông qua đời.

Tôi tin, tin lắm và tôi học thuộc mấy câu trong ca khúc “bao năm qua rồi còn mãi ra đi...” thuộc đến bây giờ. Qua lời ca và giọng nhạc, tôi “nghi ngờ” là của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhưng lại tin lời người bạn tù với cái hot news về NS Phạm Duy rất là cảm động. Khi được thả về Sài Gòn, có một lần duy nhất tôi được nghe bản “Huyền Thoại Mẹ” của TCS do chính tác giả hát trên Truyền hình, nhưng không hề nghe bài “Một Cõi Đi Về” cho tới ngày sang đến Mỹ. Đến Mỹ lần hồi quen thân với nữ nghệ sĩ Kiều Loan, ái nữ của nhà thơ Hoàng Cầm, mới hay nhạc sĩ Phạm Duy còn sống sờ sờ ra đó, còn sáng tác nhiều bản nhạc khác để đời. Và “bao năm qua rồi còn mãi ra đi...” là của người nhạc sĩ họ Trịnh.

Hot news trong tù là một “món quà” thời thượng để tặng nhau làm niềm vui, làm niềm tin và hy vọng. Có những hot news từ ngoài lọt vào, độ khả tín rất cao, nhưng cũng có những hot news do tù sáng tác, phịa ra để đánh lừa các  bạn mình và có khi đánh lừa cả chính mình nữa. Nhưng hai lần hot news ầm lên khắp trại Quảng Ninh năm 1978 và ở trại Lam Sơn năm 1980 thì hoàn chính xác. Tin đồn đại ấy chỉ không loan báo được ngày giờ di chuyển chứ các chi tiết khác diễn tiến như mọi người đã được nghe bàn tán trong dư luận.

Dưới con mắt người tù cải tạo, mọi chi tiết xẩy ra bên lề đều được ghi nhận, suy diễn, đánh giá và lượng định tình hình. Một phái đoàn từ phân trại A đến phân trại C cách đó mấy ngày, trong đoàn có đại tá công an Hoàng Thanh đã củng cố cho tin chuyển trại trong dư luận là điều chắc chắn. Mỗi lần ông Hoàng Thanh xuất hiện là có chuyển trại hay có một “cái gì đó”. Trước ngày tù xuống tàu Hồng Hà ra Bắc, ngày rời Quảng Ninh về Thanh Hóa, ngày dẹp xong cuộc nổi loạn của tù cải tạo tại phân trại C đều có sự xuất hiện của nhân vật này.


TRÊN CHUYẾN TÀU XUÔI NAM

Cuộc “chuyển quân” khởi động vào sáng sớm ngày 26 tháng 12 -1980. Đúng 8 giờ từng tốp cán bộ vào các buồng giam ra lệnh mọi người đem hết hành trang ra ngoài sân. Một danh sách đánh máy thành lập những đội mới đã được lập sẵn. Hệ thống biên chế tổ đội trước đó coi như xóa sổ. Các thành phần chức sắc cách đó mấy tiếng đồng hồ còn đủ uy quyền để chỉ thị, để ra lệnh cho mọi người, bấy giờ đứng lơ ngơ như gà con mất mẹ. Trong danh sách mới, cứ 29 người được biên chế thành một đội. Số đội viên được lấy từ các đội khác phân tán trộn lẫn vào những đội tân lập. Có lẽ cốt ý của việc làm này là để tránh những cuộc trả thù giữa thành phần tiến bộ và thành phần bị áp bức trong khi di chuyển. Con số 29 người trong mỗi đội, một người được cử làm đội trưởng, khi lên tàu được thong thả đi lại trong toa, còn 28 người kia thành 14 cặp cho tiện còng chung, ngồi cùng dãy ghế.  Tôi không có tên trong đội nào, đang hoang mang, chạy lui chạy tới thì quản giáo đội cũ, Lê Minh C. từ ngoài đi vào, gặp tôi bên cổng vào sân buồng giam, ông ta hỏi tôi:

- “Anh ở đội nào”?

Tôi nói dối:

– “Tôi vào trong buồng lấy đồ đạc, trở ra không nghe kịp. Nhờ cán bộ hỏi cán bộ Thơm giùm tôi”. CB Thơm là người đứng đầu bộ phận an ninh của trại. Trước đó khoảng hơn một tuần lễ, anh “thi đua HNĐ” dẫn ông ta vào trại gặp tôi nhờ bóp lưng và lên lai hai cái quần tây “Made in France” mới toanh. Tôi xin nghỉ lao động một buổi để làm, nhưng được nghỉ luôn cả ngày. Buổi chiều trước giờ lao động ngoài đồng trở về, ông ta vào lấy quần. Ông ta rất vừa ý khi thấy hai cái quần “chiến” sửa lại rất nhà nghề “professional”, mặc dù là tôi làm bằng thủ công. Người cán bộ này hỏi tôi –“Anh cần gì không? Tôi nói –“Cán bộ cho tôi xin một cái quần (tù) để tôi mặc đi lao động. Mùa này lạnh lắm, tôi mặc hai lớp cho đỡ rét”. Ông ta quay sang bảo anh “thi đua”, -“Anh về lấy cho anh ấy cái quần mới”. Nhưng sau đó tôi không nhận được cái quần, có lẽ biết sắp chuyển trại nên không cần thiết cho thêm quần làm gì.

Cho tới giờ này, khi ngồi ghi lại chi tiết tủn mủn này tôi vẫn nghĩ là người cán bộ an ninh này đã “trả ơn” tôi bằng quyết định thêm tên tôi vào danh sách về Nam phút chót. Cán bộ quản giáo, ông Lê M. C. trở vào nói với tôi:

- Anh thế chỗ anh Nguyễn Tấn Khải ở đội 39.

Tôi nhờ ông ấy đi với tôi đến bảo cán bộ và “tân đội trưởng” ghi tên giùm tôi cho chắc ăn. Thế là tôi thế chỗ một người, mà người đó không bao giờ được lên một chuyến tàu khác trở về với gia đình ruột thịt, với miền Nam thân yêu. Ông Nguyễn Tấn Khải là một trong ba người bị giữ lại vì không đủ sức khỏe lên tàu. Cả ba sau đó đều chết ở Thanh Hóa. Còn tôi, thay vì ở lại cùng các bạn khác đi ra Thanh Cẩm thì đã được về Nam như một sự xui khiến, phù hộ ... nào đó.
Vì tôi thế chỗ “ông già Khải” nên tôi còng chung với Trung tá CSQG Trần Văn Hương, tuổi tác ông ngang bậc cha chú của tôi. Trong suốt bốn ngày đêm trên tàu một già một trẻ kể cho nhau nghe rất nhiều chuyện của nhau.

Chúng tôi lên xe từ phân trại C khoảng 9 giờ sáng ngày 28 tháng 12 -1980. Đến ga Thanh Hóa tất cả được dồn vào trong một cái kho chứa phân bón A-pa-tit. Loại phân hóa học này đựng trong từng bao lớn cỡ bao gạo 20 kg. Từng lớp, từng lớp gối đầu lên nhau, nằm la liệt trên bao phân sắp ngổn ngang nơi cao nơi thấp. Mọi cảm giác khổ sở, mệt mỏi rã rời, sau một chuyến xe đường dài và nằm chen chúc trong tối tăm hôi hám được an ủi khuây nguôi trên nét mừng vui của mỗi người trước giờ phút cuộc đời tù tội bắt đầu đổi hướng quay trở ngược về Nam. Cũng có một đôi lần lời qua tiếng lại, cự nự lẫn nhau khi người này đạp lên đầu người kia trong bóng tối mù mờ.

Có một điều tôi không thể không nói ra, bởi nếu tôi im lặng, lãng quên quá khứ, tôi là kẻ vô ơn. Khuya đêm 28 tháng 12 vào lúc 11 giờ 30 người cán bộ quản giáo Lê M.C. cùng với một người công an khác rọi đèn pin đi kiểm soát an ninh, ông tìm đến tôi trong gần một ngàn người tù nằm ngổn ngang la liệt. Tìm được đội 39, ông ấy rọi đèn pin bước một cách khó khăn lại chỗ tôi nằm, lên tiếng:

- Anh TKL đấy hả.

Tôi trả lời – Thưa cán bộ, vâng tôi.
– Anh có rét lắm không?

- Thưa cán bộ, không lạnh vì người đông chen chúc, hơi người toát ra đủ ấm.

Ông ta trao cho tôi hai điếu thuốc lá “Summit” sản xuất tại Thái Lan, bật hộp quẹt mồi lửa cho tôi, và dặn.

- Hút cho đỡ rét. Về trong ấy hết lạnh lại được gần gia đình.

Tôi thực sự cảm động về cử chỉ này nên nói lời chân thành:

- Địa chỉ của tôi khai báo rất nhiều trong hồ sơ, cán bộ biết. Bao giờ có dịp vào Sài Gòn công tác mời cán bộ ghé nhà tôi.
Ông ta trả lời gián tiếp – Anh nằm nghỉ.  Rồi quay di. Tôi nói theo - Chào cán bộ. 

Khi được thả về Sài Gòn tôi không gặp lại người cán bộ này lần nào nữa.

Thời gian từ tháng 6-1979 đến cuối năm 1980 tôi ở trong đội trừng giới do người cán bộ này làm quản giáo. Tôi không là đội trưởng, tổ trưởng nhưng “gần gũi” nhiều với quản giáo qua quan hệ “nhờ vả” vá may. Những bộ quần áo mới lãnh về, rộng hẹp, ngắn dài là giao tôi sửa. Cái sơ mi cổ áo bị rách sờn nhờ tôi lật trong ra ngoài. Vài ba cái áo vàng công an phế thải giao tôi lấy những thân áo còn dùng được cắt may thành cái áo cho đứa nhỏ cỡ năm ba tuổi. Có lần ông ta đưa cho tôi một xấp vải Simili loại may quần, và cho biết có người đi Ba Lan về bán lại cho. Nhờ tôi cắt may cho cái quần tây. Dĩ nhiên tôi làm công việc này thì khỏi phải lao động, khỏi cuốc đất đào mương... Tôi làm việc trong “nhà lô” ngoài đồng ruộng, hoặc ngồi vào một lùm cây, khuất vắng nào đó rị mọ từng mũi kim. May xong cái quần tây, tôi không thể tưởng tượng là “tác phẩm” của chính mình. Tôi nhớ hồi đầu thập niên 50 bố mẹ tôi rước một thợ may từ làng xa đến nhà may một cặp áo cưới bằng gấm để cưới vợ cho ông anh cả của tôi. Không dè 30 năm sau nhân loại bước vào đỉnh cao kỷ nguyên cơ khí, tôi lại trở về với thời kỳ thủ công sơ đẳng.

Trong thời gian “làm việc” gần gũi với người cán bộ quản giáo này, chưa bao giờ ông ta hỏi một câu nào về riêng tư của tôi, và cũng không bao giờ ông ta gợi ý muốn biết về sinh hoạt hay về một cá nhân nào trong đội. Ngược lại tôi cũng không bao giờ mở lời hỏi một câu gì về ông ta, ngoài những câu trao đổi về may vá.
Đúng 1 giời sáng chúng tôi bị đánh thức dậy mang hành trang tù ra ngoài bãi sắp hàng, ngồi xổm dọc theo đường ray chờ lên tàu. Hơn bốn tiếng đồng hồ sau đoàn tàu mới xình xịch chạy tới. Bốn tiếng đồng hồ ngồi giữa đồng không mông quạnh, giữa cái giá rét mùa đông miền Bắc, nhiều người áo ấm bỏ trong túi hành lý không lấy ra được nên đành ngồi chịu trận. Tôi là một trong số người mặc một lớp áo tù mong manh chịu cái lạnh đến tê điếng. Ông già Trần Văn H. nhờ có cái áo bốn túi CSDC khoác ngoài hai lớp áo tù nên có vẻ an nhiên hơn một chút. Hơi lạnh thấm vào tim gan phèo phổi, làm cái dạ dày quặn lại, sinh biến chứng đau bụng đi tiêu. Nhưng “đi” không phải là việc đơn giản. Phải xin phép cán bộ dẫn đi. Phải có người đứng canh chừng. Phải được “bạn đồng hành” chấp thuận đi theo, nếu người này không có nhu cầu giải quyết thì cũng phải ngồi cạnh người kia, vì hai người chung nhau một cái còng. Hai cổ tay dính nhau, mang chung một trọng lượng khoảng một kg sắt với cái còng XHCN tự chế, không phải loại còng made in USA gọn nhẹ như lúc đi ra Bắc. 

Khoảng 5 giờ sáng khi vầng dương đã ló dạng lờ mờ, chúng tôi lục tục lên tàu. Tù ngồi các hàng ghế phía trước. Cách hai hàng ghế trống, phía sau là công an súng dài, súng ngắn ngồi giàn hàng ngang. 28 người còng chung ngồi thành từng cặp. Người tù đội trưởng ngồi riêng một ghế, được tự do đi lại, lui tới trong toa để nhận lệnh và thi hành những điều cán bộ sai bảo. Mệnh lệnh được công bố lúc chúng tôi đã ngồi yên trên các hàng ghế trong toa tàu:

- “Tất cả mọi người phải ngồi yên tại vị trí của mình, ai cần điều gì thông qua đội trưởng để báo cáo cán bộ. Khi đi qua những khu có dân cư, và lúc tàu đậu tại các ga, phải kéo cửa sổ toa tàu xuống, nếu không dân sẽ ném đá vỡ đầu các anh. vì dân chúng còn căm thù các anh lắm”!

Luận điệu này chúng tôi đã từng được nghe, được nhắc nhở ngày chúng tôi lên tàu và lúc mới đặt chân lên miền Bắc. Nhưng thực tế, nếu mấy ông cộng sản nói ra những câu hù dọa đó mà nghe người dân miền Bắc nói thì chắc chắn các ông phải hiểu là những cục đá thay vì ném lên đoàn tàu chở tù về Nam họ sẽ dành cho chính các ông ấy. Thời gian chúng tôi vừa tới Quảng Ninh, đi lao động về, gặp đám tù hình sự, gặp dân họ chào hỏi dòn dã:

- “Ngoài Bắc chúng tôi chờ bác Thiệu, bác Kỳ ra giải phóng. Các bác làm ăn, đánh đấm thế nào để ra nông nỗi này?”
Nghe câu nói đó từ những người miền Bắc, dù họ cũng là người tù, là dân quê mộc mạc, tôi cảm thấy ngỡ ngàng xa xót. Một lần khác một tù cải tạo trong đội Lâm sản gặp một người miệt núi, cả hai đều tỏ ý muốn nói chuyện với nhau. Người tù miền Nam đánh liều mon men tới hỏi thăm, sau vài câu trao đổi, người “miệt nuí” ấy nói như là để trao gởi tâm sự:

– “Các anh giữ sức khỏe để còn sống mà trở về. Đừng nghe lời chúng nó. Bịp cả đấy”. 

Người tù miền Nam không dám phụ họa theo nhưng nghe mạch máu trong người chảy rộn rã. Tại trại Z30A Xuân Lộc, vào một buổi chiều người cán bộ Chuẩn úy công an vào tổ may, giọng miền Bắc, tên anh ta là Khuê. Trong câu chuyện giữa đám tù thợ may và người cán bộ này, ông ta nói rất mạnh dạn, rất thành thật:

– “Các anh tưởng đám lính chúng tôi sung sướng lắm hả? Ban ngày họ mang súng đi theo các anh lao động, đêm về vác súng canh gác cho các anh ngủ. Các anh đun nấu mùi thơm bay lên nức trời. Chúng tôi hưởng cái mùi thơm ấy à?”

Một anh trong đám thợ may cố ý châm thêm: “Nhưng cán bộ là sĩ quan, rồi cán bộ cũng sẽ có đủ những ưu đãi dành cho cấp chỉ huy, cho công bộc nhà nước. Cán bộ còn trẻ mà”.

- “Ưu đãi cái gì các anh? Đời sống là kinh tế, mà muốn có kinh tế thì phải có chính trị. Chính trị thì phải cỡ ông Đồng, ông Duẫn mới muốn gì được nấy chứ  như chúng tôi ...”

Người cán bộ này bỏ lửng cuối câu, rồi nắm lấy cái thân áo màu rêu đang mặc, đưa cao lên và lớn giọng:

 – “Các anh bảo... hãnh diện đéo gì cái áo này”!

Tôi ngước mắt nhìn vào người cán bộ này và nhìn các anh em khác. Mọi người đều tỏ ra ngạc nhiên về tính bộc trực hiếm thấy trong gọng kìm kỷ luật sắt của đảng. Ông này bất mãn, sáng suốt, tỉnh ngộ hay gài bẫy? Có thể không có giả thiết sau cùng. Với nhiều kinh nghiệm “đừng nghe những gì cộng sản nói”, nên đoàn tù chúng tôi lặng lẽ thản nhiên.

Trở lại hành trình về Nam, một chuyến xe lửa ngược chiều chạy ngang qua đoàn tàu chở tù. Tốc độ vừa phải. Tất cả anh em chúng tôi bảo nhau cùng đẩy cửa sổ toa tàu, giơ cao hai cánh tay dính chặt với nhau bằng một chiếc còng nội hóa. Loại còng này gồm hai vòng sắt hình chữ U, hai đầu đập dẹt có khoan lỗ. Một thanh sắt lớn cỡ ngón tay trỏ, một đầu có nút chặn, đầu kia có lỗ để móc ống khóa. Tay hai người tù đặt vừa vặn vào vòng chữ U, thanh sắt xỏ qua bốn lỗ đầu chữ U, một ống khóa tra vào bóp lại. Trọng lượng còng nặng cả kí lô, vô cùng chắc chắn.

Hành khách bên toa tàu ngược chiều cũng mở cửa sổ, quay sang nhìn. Khi thấy những cánh tay, những chiếc còng “vĩ đại” giơ lên, tôi thấy một người phụ nữ ôm mặt òa lên khóc và có tiếng nói vọng sang –“Tàu chở tù. Các anh ấy về Nam”. Đó là lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với thế giới bên ngoài sau năm năm cách ly khỏi cộng đồng xã hội loài người, ẩn mình trong rừng núi với cảm giác trở về thời người vượn.

Cho tới giờ này tôi vẫn chưa có gì để biết chắc được – có lẽ có, có lẽ không – một trong những hành khách trên chuyến tàu ngược chiều ấy là bà xã tôi. Theo những anh em, những người bạn sau về Sài Gòn gặp nhau, các anh cho biết một ngày sau khi tôi lên tàu, thì nhà tôi ra thăm.
Có những người bạn của tôi từ thưở đi học, đi làm, cả “chàng rể phụ” đám cưới chúng tôi, đi lao động gặp nhà tôi giữa đường cho nhà tôi hay là tôi đã về Nam. Nhà tôi ngỡ ngàng vừa vui, vừa buồn, vừa lo. Vui khi biết chồng mình đã được trả về “nguyên quán”. Buồn vì vượt cả ngàn cây số gieo neo mà không được gặp. Không được gặp thì rồi sẽ gặp. Nhưng mà lo. Lo vì chặng đường trở về biết bao gian lao cực nhọc, “thân gái dặm trường”. Cái dặm trường từ nhà ga Thanh Hóa đi bộ vào đến trại tù, đến nhà thăm nuôi trên dưới mấy chục cây số thật là cơ cực. Nắng nóng, đất bụi, bùn sình. Có đoạn may mắn đón được chiếc xe trâu có từ trước “thời Pháp thuộc” thì đỡ thân một chút. Có chiếc xe, nó cõng bớt những giỏ xách, những bao bị cồng kềnh chứa toàn những là gạo, là mì, là muối mè, muối sả, là cá khô, là đường, là sữa... không có những món “thượng vàng” nhưng “hạ cám” thì có đủ.

Người tù chúng tôi không bao giờ buồn lòng, vì chúng tôi biết cả toàn dân sau cuộc đổi đời đều sống thoi thóp bằng những thứ “hạ cám” như chúng tôi thôi. Để vơi bớt “cục nợ” phải khuân vác trở về, nhà tôi quyết định trở ra nhà dân xin tá túc thêm 24 giờ để sáng hôm sau xin thăm gặp người bạn partner của tôi. Về đến Sài Gòn ngày hôm trước, hôm sau, cùng bố mẹ và ba má đến trại Z30A thăm chồng. Lần này thì chúng tôi gặp nhau trong niềm hân hoan. Tin yêu tràn ngập.


NHỮNG NGHĨA CỬ ÂN TÌNH
GIỮA HẬN THÙ GIĂNG MẮC

Trên chuyến tàu về Nam, từ ga Thanh Hóa qua Đồng Hà, Quảng Trị, Huế, Diêu Trì, Đà Nẵng, Nha Trang, tới Phan Thiết, Dầu Giây, khi tàu chạy qua nơi nào có nhà ở, có người hai bên đường, chúng tôi đều bảo nhau mở hết cửa sổ toa tàu, giơ cao hai cánh tay dính nhau bằng chiếc còng “đỉnh cao trí tuệ” để chào mừng đồng bào, chào mừng bà con miền Nam ruột thịt.. Những bà con, đồng bào hai bên đường khi chuyến tàu chạy qua, chúng tôi không biết ai là kẻ yêu, người ghét. Chúng tôi không tin có những “cục đá ném vào đầu” mà mong chờ đón nhận những cái vẫy tay, những nụ cười, những lời chào hỏi từ đồng bào, đồng loại thương yêu mình.
Ở ga Thanh Hóa đã có những cặp mắt tò mò dửng dưng nhìn theo đoàn tù. Có một vài em bé bán nước, mời ly nước chè xanh:

– “Uống đi, cháu không lấy tiền ông đâu”.

Qua giọng nói và tấm òng của em bé, những nguời tù chúng tôi chứng kiến hôm đó có chút gì như ngạc nhiên và cảm động. Càng đi dần về phía Nam, chúng tôi càng gặp nhiều ngạc nhiên, xúc động, có khi đến chực rơi nước mắt. Từ ga Huế trở vào có những lúc, nhất là khi tàu ngừng lại, người hai bên đường, ném lên toa tàu tới tấp – thuốc lá, bánh mì, bánh chưng, bánh đúc, cam, bưởi... những món quà tình nghĩa từ những bà mẹ, những em nhỏ buôn thúng bán bâng, từ những cậu con trai phải bỏ học nửa chừng để kiếm sống bằng những việc làm lam lũ. Gói thuốc lá, trái cam, cái bánh... giữa cảnh ngộ và thời buổi đó đã toát ra một nghĩa tình cao quý, vượt lên trên tất cả những cái tầm thường bé mọn ở những “đồng loại” hơn năm năm bên nhau trong lao tù, đáng ra phải đồng cam cộng khổ.

Đối với chúng tôi nghĩa cử đó chính là vòng Nguyệt Quế dành cho kẻ trở về, dù vẫn đang trong bộ áo tù, tay trong chiếc còng nặng trĩu. Có một lúc tôi như giật mình khi nghe một thiếu niên hát vang vang: “như có bác Hồ trong thùng phi đậy nắp, mở nắp ra nghe cái ‘cốc’ trên đầu”.

Thì ra sau hơn năm năm người dân miền Nam đã biết “bác Hồ” là ai. Tôi nhớ ngày 1 tháng 5-1975 một anh Nhân dân Tự vệ ở cạnh nhà tôi, tuổi dưới hai mươi đi ra đường xé những tấm ảnh “bác” dán ở những cột đèn, những bờ tường, dọc theo đường Trần Quốc Toản cũ (3 tháng 2) và khu ga xe lửa Hòa Hưng, cậu ta liền bị bắt đưa đi cải tạo hơn nửa con giáp mới được thả về. cậu này tên là Thủy, được định cư tại Mỹ theo diện HO. 

Trước năm 1975, người dân miền Nam không biết “bác” và không hiểu một chút mô tê gì về chủ nghĩa mà “bác” mang về làm nền móng cai trị cho chế độ do “bác” dựng lên.  Nhờ chế độ của “bác” mà lịch sử có những trang đẫm máu của Cải cách Ruộng đất, của Nhân văn, Giai Phẩm, của Tết Mậu Thân, của biến cố  30. 4. 1975.  Không phải đợi đến năm năm, mà chỉ năm bảy tháng, một năm, sau khi được nhìn tận mặt, được tiếp cận từng ngày là người dân đã biết, biết rất rõ những gì “bác” làm, những gì “bác” để lại cho hậu thế trước nông nỗi trăm cay nghìn đắng. Càng hiểu biết bác, hiểu biết chế độ của bác, người dân, kể cả một bộ phận người dân miền Bắc, càng thấy thương, thấy tội nghiệp cho đoàn tù, cho quân cán chính miền Nam, lớp người đã từng đem máu xương, sinh mạng để xây dựng và bảo vệ miền Nam Tự do ấm no và hạnh phúc.
Chuyến tàu thống nhất nối lại tuyến đường sắt, nhưng đã không nối lại được tình người, không nối lại được tình tự dân tộc. Vì vậy những người cán bộ công an hộ tống trên toa mới bảo chúng tôi kéo kín cửa, kẽo người dân “còn căm thù” sẽ ném đá vỡ đầu.
Sau ngày 30.4.75, tuyến đường chở ngược hướng Bắc những đoàn tù biệt xứ, cùng với hàng hàng những chuyến tàu chở đầy chiến lợi phẩm nhưng đã không làm vơi dịu được phần nào cảnh bần hàn nheo nhóc của ba mươi triệu người dân suốt 20 năm gồng mình xây dựng XHCN và chiến tranh thôn tính. Thù hận vẫn thù hận. Nghèo đói vẫn nghèo đói. 
Rồi tình thế cũng đến ngày đổi chiều, xoay ngược. Từng chuyến tàu liên tiếp chở đoàn tù xuôi Nam. Đoàn tù trở về nhận từ tấm lòng người dân biết bao cảm tình nồng mặn. Khi đoàn tàu qua khỏi ga Hàm Tân, có tiếng người bên vệ đường thông báo: – Các anh về Xuân Lộc. Những người cán bộ hộ tống không bao giờ tiết lộ nơi chúng tôi sẽ đến, nhưng khoảng 30 phút trước khi tàu về đến sân ga, công an bảo vệ ra lệnh mọi người thu xếp đồ đạc gọn gàng để chuẩn bị xuống tàu. Biết được nơi đến, không ai bảo ai, mỗi người đều lấy giấy bút ghi địa chỉ gia đình để báo tin cho thân nhân. Trước đó có một vài nhân viên hỏa xa đi lại trong toa. Có người đã mạnh dạn giúi miếng giấy vào tay, người nhân viên toa tàu cầm lấy, lặng lẽ bước đi. Khi tàu giảm tốc độ xuống rất chậm, một nữ nhân viên hỏa xa trạc tuổi trên dưới ba mươi đi qua, tôi đưa cái địa chỉ và nói nhỏ.
– Tôi nhờ cô gửi bưu điện giùm. Cô ta mỉm cười, một nụ cười rất thiện cảm, cầm miếng giấy địa chỉ bỏ vào túi.

Khác với một số anh em phó mặc cho may rủi, riêng tôi, tôi tin lời nhắn của tôi sẽ được chuyển tới nhà. Rất đông anh em khác, hoặc được gợi ý từ nhân viên quét dọn tàu, hoặc vì hết cách nên cứ bỏ đại vào hộc đựng tàn thước lá, hộc đựng rác cạnh thành tàu.

Có người ba ngày sau gia đình đã lên thăm. Môt số đông gia đình đến thăm sau một tuần lễ. Về sau kiểm chứng lại chúng tôi được biết tất cả những ai có miếng giấy nhắn tin đều được các nhân viên trên chuyến tàu chia nhau mang tới tận từng nhà. Gia đình thân nhân của tù xin được trả tiền xích lô, tiền xăng nhưng không một ai chịu nhận.  Nhà tôi khi lên thăm cho biết có một cô mang giấy nhắn tin đến, gia đình trả tiền xích lô nhưng cô ấy từ chối. Nhà tôi hỏi thăm được biết người nữ nhân viên này quê Nam Định, vào Nam năm 1977. Đó là một con người miền Bắc từng được nhồi nhét từ nhỏ ý thức căm thù Mỹ Ngụy. Nếu như toàn thể mọi người Việt Nam xóa hết được tâm lý hận thù như những người công nhân bình thường ấy thì may mắn cho dân tộc biết chừng nào. Cho đến bây giờ chúng tôi không quên những ân tình quý báu giữa thời buổi hận thù giăng mắc ấy.

-------------------------
(*) Châu Về Hiệp Phố, tên một quận xưa ở Giao Châu là nơi sản xuất ngọc trai (châu) nổi tiếng. Tương truyền vào thời hậu Hán có vị quan tham ô tàn bạo, thường bắt dân lặn xuống biển tìm ngọc châu. Vì thế ngọc châu bỏ đi hết sang quận Giao Chỉ. Mãi đến sau khi Mạnh Thường về thay chức Thái thú và bãi bỏ đạo luật cũ, ngọc châu lại trở về Hợp Phố. Ý nói những gì quý giá, không mất đi thì sớm muộn cũng quay về chủ cũ.



Wednesday, February 21, 2018

HỒ CHÍ MINH CON KỲ NHÔNG HANG PẮC BÓ




Xuất xứ nhân thân của Hồ Chí Minh, một “quyết đóan” (the dictums) thời sự khá sôi động trong nhiều năm qua, kể từ sau khi một tác giả người Đài Loan - Hồ Tuấn Hùng - phổ biến một tác phẩm có tựa đề "Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo’’, chứng minh Hồ Chí Minh (HCM) không phải là Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung (là người xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghê An), mà là Hồ Tập Chương (HTC) người Đài Loan.

Quyển sách được xuất bản và phổ biến năm 2008, nhưng mãi cho đến năm 2014, dư luận mới bàn tán sôi nổi khi có nhiều tác giả lên tiếng đưa ra những tài liệu, chứng cứ và bài viết có sức thuyết phục.
Sự kiện này có ảnh hưởng, tác động rất lớn vào lịch sử Việt Nam ở thế kỷ Hai mươi. Mặc dù có những ý kiến quyết đoán, Sự Thật hiện vẫn còn chưa được phân định sáng tỏ dứt khoát. Lập trường của nhóm chủ trương tạp chí NGUỒN vẫn là để chừa một khoảng trống kết luận cho thời gian, khi sự thật chung quyết được minh chứng và được công luận nhìn nhận.  Chủ đề số báo này, Nguồn 60 nhằm mục đích cống hiến bạn đọc và các nhà nghiên cứu có một cái nhìn tổng thể, với những tài liệu, chứng cứ qua bài viết đóng góp của các tác giả và các nhà nghiên cứu, trong số có nhiều bài đã phổ biến trên các diễn đàn và các trang mạng xã hội. Vì không thể liên lạc được với tất cả các tác giả, chúng tôi xin phép được thu thập, đúc kết các tài liệu và bài viết cho số báo chủ đề “Hồ Chí Minh – Con Kỳ Nhông hang Pắc Bó” (*)

**
5 năm, sau khi quyển "Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo’’ phát hành phổ biến, dư luận rộ lên những bài tường thuật, ý kiến, nhận định với nhiều dẫn chứng, trong số có tường thuật của RFA, theo đó, “Ông Nguyễn Ái Quốc (Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung) bị bạo bệnh, đã mất năm 1932, đảng CSTQ đã chọn một sĩ quan tình báo trong cục Tình báo Hoa Nam đóng giả, thay thế Nguyễn Ái Quốc để duy trì phong trào cách mạng ở Đông Dương (gồm 3 nước Việt – Miên – Lào) để TQ tính kế lâu dài trong sự nghiệp bành trướng sau này.

Tác giả bài viết đăng tải trên trang báo điện tử của RFA ký tên NVT đã đưa ra một ý kiến mà theo chúng tôi không thể nào chấp nhận. Tác giả NVT quyết đoán như sau:
Nếu “sau khi xét nghiệm khoa học, đúng HCM chính là HTC đội lốt Nguyễn Ái Quốc từ 1941 đến 1969. Nhân dân VN đã giải tỏa được bức xúc. Chúng ta vẫn sẽ coi HCM – HTC là người chiến sĩ quốc tế, dù thế nào cũng đóng góp cho CMVN nhiều công sức, chúng ta nhớ ơn ông, mọi quan hệ sẽ vẫn giữ nguyên, không truy cứu, phỉ báng người đã 29 năm đóng vai trò lãnh tụ tinh thần của ĐCSVN, cho dù có những khiếm khuyết sai lầm...”
http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/who-real-is-hchiminh-07202014072439.html

Đọc đoạn văn nêu lên quan điểm này, chúng tôi có cảm tưởng tác giả NVT tiếp tục chủ trương của tình báo Hoa Nam, khi ông xí xóa hết mọi tội ác của Hồ Tập Chương, một người Tàu (hay HCM, người Việt), kẻ đã gây nên biết bao nhiêu đau thương, thảm họa, tang tóc cho dân tộc Việt Nam trong non một thế kỷ qua, để đất nước hôm nay đang đắm chìm trong băng hoại và đang bên bờ diệt vong.
Có rất nhiều giả thuyết và lập luận được các tác giả nêu lên nhằm truy tầm tông tích Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc (người Việt) hay Hồ Tập Chương (người Tàu), nhưng không thấy tác giả nào đưa ra chủ trương xóa tội ác cho HCM – Hồ Tập chương như tác giả NVT.

Khi xây dựng chủ đề này, chúng tôi xin trích lược những ý chính trong các bài viết. Độc giả sẽ tìm thấy đầy đủ chi tiết khi bấm vào các địa chỉ kết nối (links) và trong tuyển tập Nguồn 60 này.
Trước hết là sự kiện: trang Báo điện tử của đảng CSVN, một cách chính thức, trưng dẫn trong bài “Kỷ niệm ba năm ngày thành lập Đảng cộng sản Đông Dương,..” xác nhận “Nguyễn Ái Quốc đã bị ám sát vào giữa năm 1932 trong các nhà tù địa ngục của Hồng Công”.               
Năm 2007, trong một tài liệu chung, cả Trung Cộng lẫn CSVN đều thừa nhận Hồ Chí Minh đích thị là Hồ Tập Chương/ Hồ Quang, với hai tấm ảnh trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Mới nhất, ngày 21 tháng Năm 2016, Tiến sỹ kỹ sư Đinh Thế Dũng, bút danh: Phạm Thế Định đã đưa ra các chứng cớ minh chứng hai nhân vật thiếu tá Hồ Quang và Nguyễn Tất Thành khác nhau trên nhiều điểm, nhất là chiều cao và bệnh sử.
https://us-mg6.mail.yahoo.com/neo/launch?.rand=egcle5qqb20bd#7104487682

Theo chúng tôi, có hai sự kiện là bằng chứng thuyết phục, bạn đọc có thể suy luận để đi đến một nhận định.

1./ Thứ nhất: HCM từ ngày về tiếp thu và làm việc tại Hà nội, trong suốt 15 năm (1954 đến 1969) chỉ có một lần, năm 1957 về thăm lại làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.

Nguyễn Ái Quốc khi mới xuất dương đã có những quan tâm đặc biệt đến người cha là Nguyễn Sinh Sắc, nhưng từ khi là HCM thì không bao giờ nghe thấy một lời nhắc nhở nào nữa. Khi người chị của HCM, bà nguyễn thị Thanh từ xứ Nghệ ra Hà Nội tìm thăm cậu em Nguyễn Tất Thành, bà được "cậu em" tiếp một cách rất lạnh nhạt, Bà Thanh chỉ ở Phủ Chủ tịch vài giờ, buổi chiều về lại Nghệ An. Túi trái cây bà mang từ quê ra cho “cậu em”, Hồ cũng từ chối khéo. Khi người anh cả Nguyễn Sinh Khiêm và hai người chị qua đời, Hồ không hề tỏ ra một chút xúc động, không có một bó hoa hay lời phúng viếng.
2./ Thứ hai:  Năm 1926 Nguyễn Ái Quấc dưới bí danh Trung Hoa: Li Shui (Lý Thụy), cưới một nữ y tá và đảng viên Cộng Sản Trung Hoa tên là Zheng Xue Ming (Tăng Tuyết Minh). Năm 1938 Lý Thụy từ Moscow đến chiến khu Yenan dưới bí danh Hồ Quang rồi từ đó tiến về biên giới Việt-Hoa, nhưng không gặp Tăng Tuyết Minh. Năm 1941, dưới bí danh Hồ Chí Minh rồi từ năm 1954 khi về Hà Nội đến khi mất năm 1969 HCM không hề gặp lại Tăng Tuyết Minh. Tăng Tuyết Minh chờ đợi cho tới lúc qua đời (năm 1991).  

Theo tác giả Bùi Tín HCM “có trái tim thép lạnh tanh khi bà vợ cũ có hôn thú Tăng Tuyết Minh dò hỏi về ông suốt từ 1945 đến 1964, ông vẫn làm ngơ...”
Tác giả Thiên Đức cho rằng Hồ Chí Minh không thể nào biết những kỷ niệm "buồng the" hay "trăng thề hứa hẹn" thì làm sao dám tìm gặp lại Tăng Tuyết Minh mà không bị phát hiện giả mạo.
Theo sách của Hoàng Tranh, một buổi chiều cuối tháng Tám, khi tỉnh lại, Hồ Chí Minh nói với các bác sĩ Trung Quốc: "Mong nghe ai hát một bài ca Trung Quốc." Một y tá của bệnh viện Bắc Kinh hát, Hồ nghe xong, mỉm cười, và "đấy là nụ cười chót" của ông trước khi hôn mê cho đến lúc qua đời.

Tác giả Huỳnh Tâm (người Hoa) ký giả phóng viên, trong cuốn sách tựa đề “Giặc Hán đốt phá Nhà Nam’’, chứng minh qua nhiều tài liệu “lấy từ văn khố của cơ quan tình báo Hoa Nam (TBHN)’’, theo đó: Hồ Tập Chương được chọn vào vai Nguyễn Ái Quốc lúc đang là sĩ quan tình báo của cục TBHN (có cả số hiệu quân tịch)... Mộ chôn Nguyễn Ái Quốc còn ở Liên Xô”, Tro cốt của Nguyễn Ái Quốc (mã số 00567) sau khi thiêu đã được lưu trữ tại nghĩa trang Kuntsevo, Moscow, Nga Sô cũ. Tài liệu gốc vẫn còn được lưu tại di tích nhà tù Hương Cảng.
http://huynh-tam.blogspot.com/2014/07/ho-chi-minh-ong-la-ai-noi-khong-uoc.html

**
Sự kiện Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Tập Chương, hai nhân vật là một, hay là hai người đuợc đánh tráo bởi tình báo Trung Nam Hải, với rất nhiều tài liệu, nhiều tranh luận, dẫn chứng, nhưng vấn đề vẫn còn là một ẩn số. Có hai khuynh hướng đưa ra những ý kiến trái nghịch:

Một cho rằng HCM là Hồ Tập Chương, là thiếu tá Hồ Quang đóng vai HCM từ năm 1933 đến lúc qua đời năm 1969; Khuynh hướng này có nhiều tài liệu trưng dẫn để khẳng định. Khuynh hướng trái ngược phủ nhận mọi chứng cứ, luận cứ và cho rằng câu chuyện HCM không phải Nguyễn Ái Quốc, mà là Hồ Tập Chương là chuyện bịa đặt.
 Trên trang mạng http://vuottuonglua.org mới đây (04/28/2016) đưa tin Trung Quốc công bố HCM chính là Thiếu tá Hồ Quang thuộc quân đội Nhân dân Trung Quốc. http://vuottuonglua.org/2016/06/trung-quoc-cong-bo-hcm-chinh-la-thieu-ta-ho-quang-thuoc-quan-doi-nhan-dan-trung-quoc/

Theo trang báo điện tử http://baotoquoc.com, từ năm 2007 đến 2014 có bốn nguồn tin xác nhận “Thiếu tá HỒ QUANG (1938-1940), thuộc đơn vị Tập đoàn quân 18, Đệ Bát Lộ quân, Giải phóng quân Trung cộng (PLA) chính là Hồ Chí Minh.” 
http://baotoquoc.com/2014/07/05/trung-quoc-cong-bo-hcm-chinh-la-thieu-ta-ho-quang-thuoc-quan-doi-nhan-dan-trung-quoc/

Trên blog “vhqdnvt” của “trường văn hóa quân đội Nguyễn Văn Trỗi” từ 3-8-2007 xác nhận Thiếu tá Hồ Quang (PLA) Trung quốc (1938-1940) chính là Hồ Chí Minh”.                 http://vhqdnvt.blogspot.ca/2007/08/qu-lm-t-c-ngi-xa.html

Trong tập Khảo luận “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh), Thái Văn dịch: Hồ Quang chính là bí danh Hồ Chí Minh từ năm 1939 đến 1942. 
“Năm 1939, Hồ Chí Minh ở Ban huấn luyện cán bộ du kích Nam Nhạc, với đầy đủ chứng cứ ghi trong cuốn sách “Thông tin về đồng môn” ghi rõ Th/tá Hồ Quang chính là HCM. 
http://doithoaionline2.blogspot.ca/2013/02/normal-0-false-false-false-en-us-x-none_17.html

Trên website “baolamdong.vn” (báo Lâm Đồng), Cơ quan của đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Lâm đồng, tác giả Nguyễn Hoàng Bích, trong bài “Những năm tháng Bác Hồ ở Quế Lâm” đăng ngày 23-4-2014 cũng xác nhận: “Thiếu tá Hồ Quang trong PLA Trung cộng (1938-1940) chính là Hồ Chí Minh”.
 http://baolamdong.vn/hosotulieu/201404/nhung-nam-thang-bac-ho-o-que-lam-2323703/

Trong số các bài viết, có tác giả khẳng định “Điều chắc chắn là HCM không phải là con người của đất nước Việt Nam”. HCM theo kế sách lâu dài của Tình báo Hoa Nam tiếp tục thực hiện chính sách của nhà Minh, triệt phá hết những gì mà nhà Minh chưa phá hết. HCM đưa ra chính sách “hợp tự” nhằm triệt hạ hết mọi công trình văn hóa VN. Các đền chùa đình miếu bị tàn phá. HCM thi hành cải cách ruộng đất nhằm tàn sát hết tầng lớp trí thức, thân hào nhân sĩ, làm băng hoại truyền thống đạo lý gia đình và văn hóa xã thôn, trao sự cai quản xã hội vào tay bọn bần cố nông thất học. HCM ra tay tàn sát bằng sự nhẫn tâm với người VN, dù đó là ân nhân.
Theo Trần Đĩnh trong tác phẩm Đèn Cù, chính HCM là người đội nón mang râu giả, đeo kính đen đến chứng kiến vụ xử tử bà Nguyễn Thị Năm trong CCRĐ. Năm 1941 HCM đã từng viết: “Triệu Đà là tổ nước ta. Nước ta lúc đó gọi là Văn Lang”.

Hồ Chí Minh từng nói với các bác sĩ Trung Quốc: "Mong nghe ai hát một bài ca Trung Quốc." Một y tá của bệnh viện Bắc Kinh hát, HCM nghe xong, mỉm cười, và đó là nụ cười chót của ông trước khi hôn mê và qua đời. Trước đó, HCM còn nhờ cán bộ TQ giới thiệu cho một người vợ Tàu để dưỡng già.
Một tác giả đưa ra quyết đoán: Qua toàn bộ phần trình bày trên có thể kết luận rằng, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh không thể là một người.

**
Khuynh hướng ngược lại, có ý kiến của nhà văn Vũ Thư Hiên cho rằng câu chuyện HCM không phải Nguyễn Ái Quốc, HCM giả là "chuyện tầm phào"; Cựu đại tá Bùi Tín cũng phủ nhận “tin đồn” qua đoạn văn của ông: “khoa học tiên tiến có thể tạo và luyện nên những con người tình báo siêu phàm, giả giống y như thật - còn hơn thật ...”.
Cùng quan điểm và lập luận với cựu đại tá Bùi Tín có ông Phạm Đình Lân, F.A.B.I. trong bài viết Hồ Chí Minh: Người Việt hay Người Tàu?

Điểm trọng tâm then chốt mà các tác giả  đồng loạt nêu lên, trong đó có bài của Ông Phạm Quế Dương (cựu Đại tá QĐND) là dư luận mọi giới thắc mắc tại sao, cho đến nay, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn hoàn toàn im lặng. Khi các thông tin này được tung ra, đảng CSVN không hề mở miệng lên tiếng phản đối, giải thích hay trấn an dư luận.
Cùng lúc, tất cả những tư liệu liên quan đến cuộc đời của Hồ Chí Minh ở Hà Nội, trong thư khố của Hoa Nam và Mạc Tư Khoa vẫn còn bị niêm phong, không ai có quyền tham khảo.
Hiện nay dư luận đang trông đợi sự thật được sáng tỏ khi khi đảng CSVN cho thử DNA xác ướp tại Ba Đình..

Trân trọng,
Ban Điều Hành CSTV Cội Nguồn
                                                                              
                                                                       

Monday, February 5, 2018

Chủ nghĩa Xã hội khoa học




Chủ nghĩa Xã hội khoa học theo lý thuyết Mác xít lấy cái Tôi khách thể, cái Tôi xã hội, cưỡng chế hay phủ nhận hai cái Tôi kia, mong đưa đến một cơ cấu xã hội không còn áp bức, bóc lột để con người tiến đến tự do ‘tự tạo chính mình’ (création de soi par soi) nhưng rồi lại biến cái Tôi Xã hội thành thần tượng, giết chết hai cái Tôi kia, đồng thời đưa dẫn con người vào hoang liêu băng giá, con người thành tên nô lệ khổ sai, giẫy dụa trong gông cùm của chế độ xã hội; loài người không tiến bộ văn minh mà thụt lùi về trạng thái mông muội cổ sơ. 
 Chủ nghĩa xã hội phản ứng lại chủ nghĩa cá nhân nơi các xã hội tư bản, bài bác chủ nghĩa tự do về kinh tế và xem chủ trương tự do về chính trị gây nên áp bức, bóc lột, tước bỏ tự do của con người, nhất là thành phần công nhân, nông dân, thành phần vô sản được xem là thành phần chủ yếu của tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội lúc đầu quá nhiều tính cách lý tưởng chủ trương nền ‘kinh tế cộng hữu’, thể chế ‘vô chính phủ’, hủy bỏ tự do cạnh tranh trước tiên về mặt kinh tế. Những nhà lý thuyết đầy tính không tưởng nầy, có thể kể:

Thursday, February 1, 2018

Đến bao giờ mới minh oan cho những người đã chết vì sự sai lầm trong chiến tranh Mậu thân 1968?



Trần Kiêm Đoàn

         
Chào anh Nguyễn Đắc Xuân và thưa quý Anh Chị trong list emails nầy,

Bây giờ ở California là 2:33 sáng, tôi vẫn chưa ngủ và tình cờ nhận được email của anh Nguyễn Đắc Xuân viết đề nghị với nhà cầm quyền Việt Nam về sự "Minh oan cho những người đã chết vì sự sai lầm trong chiến tranh Mậu Thân 1968."

Tuy trong số quý Anh Chị có người tôi quen biết và cũng có vị tôi chưa được hân hạnh biết; nhưng tôi tin rằng, tất cả chúng ta đều ở trong một hoàn cảnh chứng nhân lịch sử và có đủ sự khách quan, công bằng để nắm bắt và biện giải sự phê phán của lịch sử về chiến tranh Việt Nam và cuộc chiến Mậu Thân 1968 mà cao điểm là tại Huế.

Saturday, January 27, 2018

65 NĂM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT - 1953 - 2018



Trong suốt dọc dài lịch sử VN (ngoại trừ cuộc chiến Nam Bắc 1955-1975) có hai biến cố làm tổn hại nhân mạng nhiều nhất, đó là cuộc CCRĐ và Cuộc Thảm Sát mậu thân 1968.
Theo bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945 - 2000” do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, số người bị đấu tố lên đến 172.008 người, và sau giai đoạn sửa sai xác định trong tổng số đó có đến 132.266 người bị oan.

Con số 172.008 địa chủ bị đấu tố, hành quyết cũng được ghi nhận trong bài “Land Reform in Vietnam” (Wikipedia, the Encyclopedia): http://en.wikipedia.org/wiki/Class_enemies 


Ảnh 1. Luật Cải Cách Ruộng đất 
Ảnh 2. Bà Cát hanh Long, ngưoời địa chủ bị xử bắn đầu tiên trong CCRĐ.

Ảnh 3. Bố tôi cùng con cháu tại Las Vegas 2001  



CHƯƠNG V

BỐ TÔI - MỘT NGÀY VÀO TÙ CỘNG SẢN CŨNG KHÔNG





1.

Một ngày sau khi gia đình tôi về “nhà mới” là một túp lều dột nát, hai người du kích, một người đàn ông tên là Lê Lự (là em con cô con cậu với bố tôi, gọi bố tôi bằng cậu), mang cây kiếm, đi với một người đàn bà tên là Nuôi Đề, cầm cây gậy đến túp nhà lều, nơi gia đình tôi trú ngụ. Hai người này mang bản án đến để bắt bố tôi ký tên vào. Bố tôi ra hiệu, chỉ cho tôi cầm lấy tay ông ký nguệch ngoạc vào bản án. Bố tôi ký xong, hai du kích cầm bản án, trước khi ra về họ dặn:
“Khi nào cha tụi bay ngồi dậy được phải đến báo cho nông dân ngay, không thì chết cha bây hết!”

Sau khi ký vào bản án, bố tôi vẫn nằm im một chỗ trên cái chõng tre như từ hơn nửa năm trước đó. Đêm đêm mẹ tôi vào nói chuyện thầm thì với bố tôi. Một hôm mẹ tôi gọi tôi và người chị kế tôi lại nói nhỏ: “Thầy các con không chịu đi tù, sẽ tự tử chết. Các con vào van lạy thầy con”.

Chị tôi và tôi vào chỗ bố tôi nằm, chị tôi khóc và năn nỉ:
- “Xin thầy đừng chết, thầy đi tù thì còn sống, còn có ngày về với mẹ và chúng con”.
Chị em tôi ra trước bàn thờ tổ tiên vừa đặt tạm. Ông ngồi xuống, chị tôi sụp xuống quỳ lạy, tôi quỳ theo, chị tôi khóc: “Con xin thầy, thầy đừng chết, đừng bỏ mẹ và chúng con”.

Bố tôi nén giấu xúc động, ông nói:
- “Thầy không thể sống được. Thầy không thể đi tù. Một ngày vào tù cộng sản thầy cũng không. Khi thầy không còn nữa, các con phải thương và đỡ đần công việc cho mẹ, lo nuôi các em. Nhớ chôn thầy ở chỗ đất cao góc vườn, đầu hướng về đồng Nhà Sạ” (nơi có mộ phần ông cố và ông bà nội chúng tôi).

Friday, January 26, 2018

65 NĂM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT / 1953 - 2018




Trong suốt dọc dài lịch sử VN (ngoại trừ cuộc chiến Nam Bắc 1955-1975) có hai biến cố làm tổn hại nhân mạng nhiều nhất, đó là cuộc CCRĐ và Cuộc Thảm Sát mậu thân 1968.
Theo bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945 - 2000” do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, số người bị đấu tố lên đến 172.008 người, và sau giai đoạn sửa sai xác định trong tổng số đó có đến 132.266 người bị oan.

Chương IV
THỰC CHẤT BIỆN PHÁP SỬA SAI
VAI TRÒ HỒ CHÍ MINH TRONG CCRĐ



Từ năm 2008, sau khi một tác giả người Đài Loan, GS Hồ Tuấn Hùng, tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, phổ biến một quyển sách có tựa đề "Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo’’ chứng minh Hồ Chí Minh (HCM), lãnh tụ của Việt Nam không phải là Nguyễn Ái Quốc – Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Sinh Cung (người xã Kim Liên, Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghê An), mà là Hồ Tâp Chương (HTC) người Đài Loan – Trung Hoa.

Rất nhiều bài viết của nhiều tác giả tên tuổi đưa ra những phân tích, nhận định, nhưng chưa có ai khẳng định, quả quyết quan điểm của mình về câu chuyện HCM là Hồ Tập Chương, thật hay giả. Hầu hết đồng ý sự thật sẽ được sáng tỏ khi đảng CSVN cho thử DNA xác ướp.

Điều khiến dư luận mọi giới thắc mắc là tại sao, cho đến nay, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn hoàn toàn im lặng. Khi các thông tin này được tung ra, đảng CSVN không hề mở miệng lên tiếng phản đối, giải thích hay trấn an dư luận.

65 NĂM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT / 1953 - 2018




65 NĂM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 
1953 - 2018


Trong suốt dọc dài lịch sử VN (ngoại trừ cuộc chiến Nam Bắc 1955-1975) có hai biến cố làm tổn hại nhân mạng nhiều nhất, đó là cuộc CCRĐ và Cuộc Thảm Sát mậu thân 1968.
Theo bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945 - 2000” do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, số người bị đấu tố lên đến 172.008 người, và sau giai đoạn sửa sai xác định trong tổng số đó có đến 132.266 người bị oan.

THỰC CHẤT BIỆN PHÁP SỬA SAI
VAI TRÒ HỒ CHÍ MINH TRONG CCRĐ

Từ năm 2008, sau khi một tác giả người Đài Loan, GS Hồ Tuấn Hùng, tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, phổ biến một quyển sách có tựa đề "Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo’’ chứng minh Hồ Chí Minh (HCM), lãnh tụ của Việt Nam không phải là Nguyễn Ái Quốc – Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Sinh Cung (người xã Kim Liên, Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghê An), mà là Hồ Tâp Chương (HTC) người Đài Loan – Trung Hoa.

Rất nhiều bài viết của nhiều tác giả tên tuổi đưa ra những phân tích, nhận định, nhưng chưa có ai khẳng định, quả quyết quan điểm của mình về câu chuyện HCM là Hồ Tập Chương, thật hay giả. Hầu hết đồng ý sự thật sẽ được sáng tỏ khi đảng CSVN cho thử DNA xác ướp.

Điều khiến dư luận mọi giới thắc mắc là tại sao, cho đến nay, đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn hoàn toàn im lặng. Khi các thông tin này được tung ra, đảng CSVN không hề mở miệng lên tiếng phản đối, giải thích hay trấn an dư luận.

Tất cả những tư liệu liên quan đến cuộc đời của Hồ Chí Minh ở Hà Nội, trong thư khố của Hoa Nam và Mạc Tư Khoa vẫn còn bị niêm phong, không ai có quyền tham khảo.
Cuối cùng, điều chắc chắn, người ta nhận ra chính ông HCM đã thực hiện cuộc Cải Cách Ruộng đất tàn ác, rập theo mô thức của TQ tại Việt Nam, nhẫn tâm xử bắn người phụ nữ có lòng, bà Nguyễn Thị Năm, người từng nuôi Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh…, cùng hàng trăm nghìn người dân VN vô tội khác, trực tiếp hay gián tiếp bị giết chết … 

Dưới sự quản lý của chính phủ Hồ Chí Minh, 9 năm kháng chiến chống Pháp, vùng nào gọi là “tự do”, ở đó có chủ trương hợp làng, hợp xã, hợp tự…, để xóa mọi địa danh truyền thống Việt, nhất là những địa danh và di sản văn hóa còn dấu vết cuộc kháng chiến chống nhà Minh thế kỷ XV. Cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, xét cho cùng đều nhằm tiêu diệt đội ngũ nhân sĩ trí thức, di sản văn hóa truyền thống dân tộc. Hồ Chí Minh nhận lệnh từ Mao, những gì quân Minh thế kỷ XV chủ tâm triệt phá mà phá chưa hết thì Hồ Chí Minh phá tiếp. Đình chùa bị HCM triệt phá để thủ tiêu nền văn hóa dân tộc... Cái gọi là Cải cách ruộng đất mà Hồ Chí Minh hô hào tổ chức thực hiện là chủ trương diệt chủng do Mao Trạch Đông đề xướng.
Khi dân mình bị giết, những người ưu tú của dân tộc Việt đã bị bắn, bị chém, bị chôn sống, bị đập bằng cào, cuốc, gậy gộc, gạch đá... HCM không hề đau xót, mà trái lại còn hoan hỷ.

Chân tướng tội ác của CCRĐ bị dư luận phản đối, có nguy cơ bị lật mặt thì đảng CSVN vội vã xoa dịu, gọi là “sửa sai”.
Để chạy tội, Hồ Chí Minh đưa Võ Nguyên Giáp là người được coi là tác giả chiến công Điện Biên Phủ xin lỗi toàn dân. Hồ Chí Minh đứng đàng sau vỗ tay theo bài dạy của quan thầy “Ngọa sơn quan hổ đấu”.

Tình trạng xã hội nông thôn trong thời kỳ CCRĐ cực kỳ hỗn độn. Thành phần bần cố nông “cốt cán” dựa hơi cán bộ đội Cải Cách, xưng hùng xưng bá, tự tung tự tác, thẳng tay đàn áp, truy bức, trấn lột bất cứ người nào. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1956, danh từ “Địa chủ” nghe rất rùng rợn, một ám ảnh kinh hoàng cho con cái, thân nhân những gia đình bị khép vào thành phần này. Bản thân những người địachủ bị miệt thị ghê tởm hơn cả một con súc vật. Xã hội bị đảo lộn mọi tôn ti trật tự, luân lý đạo đức hoàn toàn bại hoại.

Một số gia đình địa chủ có con em là bộ đội, cán bộ thoát ly, ở nhà cha mẹ bị đấu tố, có người bị tử hình, tài sản bị tịch thu... Tình trạng đó khiến những người nông dân lương thiện sa sút tinh thần, hoang mang giao động, những người từng dấn thân xông pha phục vụ chấn động niềm tin.

Trước tình trạng người dân chao đảo oán than, đảng CSVN buộc phải có biện pháp xoa dịu. Tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động phải ra quyết định:

Ngưng chức Tổng Bí Thư của Trường Chinh, khai trừ Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương khỏi Bộ Chính trị; loại Hồ Viết Thắng ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương.  Vậy có phải sự thật là ông Hồ Chí Minh vô can và ông đã khóc khi nghe biết người dân đã bị hành hạ, chết chóc oan nghiệt trong những vòng tai họa của cuộc CCRĐ??

Qua bài viết của những người trong cuộc như các ông Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Vũ Thư Hiên, Trần Đĩnh khẳng định thì “người chịu trách nhiệm chính là ông Hồ Chí Minh, chứ không phải là Trường Chinh. Trường Chinh chỉ là con dê tế thần cho ông Hồ". 

Trong nhiều thập niên qua vai trò của Hồ Chí Minh trong CCRĐ vẫn được đặt ra với nhiều câu hỏi. Có thật ông chỉ theo lệnh của
Stalin và Mao Trạch Đông? Có thật ông chỉ là thiểu số không đủ
quyền lực để ảnh hưởng đến các cố vấn Trung Quốc? Có phải ông chỉ muốn tiến hành giảm tô? Có phải ông đã khóc khi biết được những tội ác do CCRĐ gây ra?

Trong cuốn “Đèn Cù”, tác giả Trần Đĩnh, người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh ghi rõ, trong buổi đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, Hồ Chí Minh đội nón, mang râu, cải trang xem cuộc đấu tố và xử tử bà Năm…, (Đèn Cù, Trần Đĩnh, Người Việt California 2014).  

Cũng theo Trần Đĩnh, tác giả bài báo "Địa chủ Ác ghê" chính là Hồ Chí Minh.  

Để “minh họa”, người viết xin lược trích một số những chi tiết trong bài viết của ông Nguyễn Quang Duy (*) hầu cung cấp cho bạn đọc tài liệu truy cứu.

Tuy nhiên, với các dữ kiện được minh chứng ở trên, nếu đúng giả thuyết Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương, người gốc Hẹ, một điệp viên của tình báo Hoa Nam cài đặt vào lãnh đạo đảng Lao Động Việt Nam, thì những nghi vấn về vai trò HCM trong CCRĐ không còn là vấn đề cần tranh luận nữa. Mọi việc đã sáng tỏ. HCM là người chủ truơng thực hiện cuộc CCRĐ theo chỉ thị của Stalin và Mao Trạch Đông.  Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Duy:

“... Hồ Chí Minh đã hiểu rất rõ nguyện vọng "người cày có ruộng" của nông dân Việt Nam. Khi còn ở Pháp ông có viết một số bài lên án việc chiếm hữu đất đai của thực dân Pháp và của nhà thờ Công giáo. Trong thời gian hoạt động tại Trung Hoa, ông tiếp nhận và để tâm nghiên cứu cách mạng thổ địa tại đây. Nó vừa là một phương tiện đấu tranh giai cấp, vừa để  xây dựng chuyên chế vô sản.

Trong một lá thư gởi các lãnh đạo Quốc tế Nông dân đề ngày8/2/1928, ông viết: "Tôi tranh thủ thời gian viết ‘những ký ức của tôi' về phong trào nông dân, chủ yếu là phong trào Hải Lục Phong, nơi có các xô-viết nông dân. Người ‘anh hùng' trong ‘những ký ức của tôi' chính là đồng chí Bành Bái, cựu Dân ủy nông nghiệp của Xô-viết Quảng Châu và hiện là lãnh tụ của nông dân cách mạng." (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 265). Năm 1953 tại Hội nghị nông hội và dân vận toàn quốc, ông lại nhắc đến: "...đồng chí Bành Bái ở Trung Quốc, gia đình đồng chí là đại địa chủ, đại phong kiến, nhưng đồng chí ấy đã tổ chức và lãnh đạo nông dân đấu tranh rất quyết liệt chống địa chủ phong kiến" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2 trang 357).

Ngày 25/1/1953, tại Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động, Hồ Chí Minh chủ toạ, đọc báo cáo đề ra nhiệm vụ phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đấu tranh chống giai cấp địa chủ phong kiến, tiến đến CCRĐ. Ít tháng sau, Đảng CS đã lãnh đạo nông dân nổi dậy ở nhiều nơi, đặc biệt là ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Khẩu hiệu "trí - phú - địa - hào, đào tận gốc, trốc tận rễ" được dùng làm tiêu đề cho cuộc đấu tranh mới - đấu tranh triệt tiêu giai cấp địa chủ và phong kiến.

Ngày 12/4/1953 Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 150 SL về cải cách ruộng đất, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp  và địa chủ phản động chia lại cho nông dân nghèo.

Ngày 14/11/1953, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương và Hội nghị toàn quốc của Đảng Lao động đã quyết định tiến hành CCRĐ.

Trong báo cáo trước Quốc hội khoá I kỳ họp lần thứ ba, ông Hồ đã phát biểu "Phương châm của cải cách ruộng
đất là: phóng tay phát động quần chúng nông dân" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509).

Ông Nguyễn Văn Trấn, nguyên Đại biểu Quốc hội khoá I, đại diện Sài Gòn Chợ Lớn, giải thích "phóng tay" nghiã là "cứ việc làm mạnh thả cửa" (Nguyễn Văn Trấn, trang 266).

Ông Nguyễn Minh Cần giải thích "là làm hết sức mãnh liệt, thẳng tay, không khoan nhượng, không thương xót, cho dù quá trớn, quá tả cũng không đáng sợ". Ông còn cho biết: "Ông Hồ đã dùng hình ảnh dễ hiểu: khi uốn thanh tre cong cho nó thẳng ra, phải uốn quá đi một tí và giữ lâu lâu, rồi thả tay ra thì nó mới thẳng được".

Ông Nguyễn Văn Trấn than rằng "Trời ơi! Đảng của tôi đã nghe lời người ngoài, kéo khúc cây cong quá trớn. Nó bật lại giết chết bao nhiêu vạn sinh linh." (Nguyễn Văn Trấn, trang 266).


Cũng trong báo cáo trước Quốc hội này, Hồ Chí Minh đã ra chỉ tiêu: "Giai cấp địa chủ phong kiến không đầy 5 phần trăm dân số, mà chúng và thực dân chiếm hết 7 phần 10 ruộng đất..."
Chính chỉ tiêu này đã: "... giết chết bao nhiêu vạn sinh linh".  (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509).

 Một địa chủ bị đấu gục. Ảnh: Nhiếp ảnh gia Liên Xô Dmitri Baltermants (1912-1990) chụp tại Miền Bắc Việt Nam năm 1955

Ông Nguyễn Minh Cần giải thích "là làm hết sức mãnh liệt, thẳng tay, không khoan nhượng, không thương xót, cho dù quá trớn, quá tả cũng không đáng sợ". Ông còn cho biết: "Ông Hồ đã dùng hình ảnh dễ hiểu: khi uốn thanh tre cong cho nó thẳng ra, phải uốn quá đi một tí và giữ lâu lâu, rồi thả tay ra thì nó mới thẳng được".
Ông Nguyễn Văn Trấn than rằng "Trời ơi! Đảng của tôi đã nghe lời người ngoài, kéo khúc cây cong quá trớn. Nó bật lại giết chết bao nhiêu vạn sinh linh." (Nguyễn Văn Trấn, trang 266).

Cũng trong báo cáo trước Quốc hội này, Hồ Chí Minh đã ra chỉ tiêu: "Giai cấp địa chủ phong kiến không đầy 5 phần trăm dân số, mà chúng và thực dân chiếm hết 7 phần 10 ruộng đất..." Chính chỉ tiêu này đã: "... giết chết bao nhiêu vạn sinh linh".  (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6 trang 509).

Trong thời gian tiến hành giảm tô tiến đến CCRĐ, sáu xã tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã được chọn làm thí điểm. Người đầu tiên bị mang ra xử bắn là bà Nguyễn Thị Năm. Bà còn được gọi là bà Cát Hanh Long (xem Nguyễn Minh Cần). Bà làngười đã che giấu và nuôi dưỡng các lãnh đạo cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản... trong thời gian Đảng CS còn hoạt động bí mật. Hai con trai bà, ông Nguyễn Công và ông Nguyễn Hanh đều theo Việt Minh từ trước 1945. Khi CCRĐ được phát động, ông Nguyễn Công đang làm Chính uỷ trung đoàn và ông Nguyễn Hanh là đại đội phó bộ đội thông tin.

Thành Tín cũng viết "Ông Hoàng Quốc Việt kể lại rằng hồi ấy ông chạy về Hà Nội, báo cáo việc hệ trọng này với ông Hồ Chí Minh. Ông Hồ chăm chú nghe rồi phát biểu: “Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức”. Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói với Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này".

Thành Tín viết tiếp: "Thế nhưng không có gì động theo hướng đó cả! Bởi vì người ta mượn cớ đã quá chậm. Các phóng viên báo chí, các nhà văn hạ phóng tham gia cải cách đã viết sẵn bài tố cáo, lên án, kết tội bà Năm rồi".

Trong hồi ký “Giọt Nước Trong Biển Cả”, ông Hoàng Văn Hoan đã cho rằng Ủy ban CCRĐ "... tự cho phép các đội CCRĐ được bắn vào địa chủ gian ác để nâng cao khí thế nông dân. Việc bắn địa chủ mở đầu từ Thái Nguyên, sau lan tràn đi nhiều nơi, coi là một phương pháp tốt, để nâng cao uy thế của nông dân."

Ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó chủ tịch thành phố Hà Nội, đã hết sức ưu tư về việc "những người lãnh đạo cộng sản trong Bộ Chính trị và đứng đầu chính phủ đã từng được bà che giấu, nuôi ăn, tặng vàng, nay đang làm Chủ tịch nước, Tổng Bí thư, Ủy viên ban chấp hành, Thủ tướng, Phó Thủ tướng đã lạnh lùng chuẩn y một bản án tử hình như vậy! Phát súng đầu tiên của CCRĐ nổ vào đầu của một người phụ nữ yêu nước đã từng giúp đỡ cho những người cộng sản! Phát súng đó tự nó đã nói lên nhiều điều về các lãnh tụ cộng sản! Nó báo trước những tai họa khôn lường cho toàn dân tộc!".

Nhà văn Vũ Thư Hiên nhận xét một cách dứt khoát: "Câu chuyện về Hồ Chí Minh trong thâm tâm chống lại chủ trương Cải cách ruộng đất, bực bội vì việc mở màn bằng việc bắn một người đàn bà, như một số người bào chữa cho ông là một chuyện tầmphào. Một lệnh ông Hồ ban ra không phải là chỉ cứu được bà Nguyễn Thị Năm, nó còn cứu hằng ngàn người bị giết oan trong cả Cải cách ruộng đất, lẫn Chỉnh đốn tổ chức do Lê Văn Lương song song tiến hành. Ông không cứu ai cho tới khi những sai lầm tích tụ lại thành cái nhọt bọc. Lúc cái nhọt bọc vỡ ra ông mới tỉnh cơn mê. Nhưng đã muộn" .

Vũ Thư Hiên còn cho biết ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên thư ký riêng của Hồ Chí Minh, đã nói thẳng với ông Hồ: "Máu đồng bào, đồng chí đã đổ mà Bác vẫn còn ngồi yên được à? Chúng ta tuy không có học, chúng ta dốt, chúng ta phải vừalàm vừa học xây dựng chính quyền, vì dốt nát chúng ta mắc mọi sai lầm, nhưng chúng ta không có quyền để tay chúng ta nhuốm máu đồng bào đồng chí". Cũng qua Vũ Thư Hiên ta biết được ông Vũ Đình Huỳnh đã "... khẳng định người chịu trách nhiệm chính là ông Hồ Chí Minh, chứ không phải là Trường Chinh. Trường Chinh chỉ là con dê tế thần cho ông Hồ".

Vụ án Nguyễn Thị Năm nói riêng và CCRĐ nói chung còn rất nhiều uẩn khúc. Những uẩn khúc này không phải chỉ liên quan đến các nạn nhân hay gia đình nạn nhân CCRĐ. Nó còn in đậm nét trong tâm trí của những người đã một thời tin vào chủ nghĩa cộng sản, vào lý tưởng cộng sản, vào sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và ĐCS, trong đó có người từng trực tiếp tham gia CCRĐ. Những uẩn khúc này cần phải được làm sáng tỏ.

Trong tập tài liệu Phát động quần chúng và tăng gia sản xuất của tác giả C.B. do báo Nhân Dân xuất bản năm 1955, trang 27 và 28, có bài "Địa chủ ác ghê". Bài viết này đã được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21 tháng 7 năm 1953 và phổ biến lại trong tập liệu này. Đúng như nhà báo Thành Tín cho biết, "các phóng viên báo chí, các nhà văn hạ phóng tham gia cải cách đã viết sẵn bài tố cáo, lên án, kết tội bà Năm rồi".

Cho tới ngày hôm nay, khi mà đảng CSVN không còn có thể bưng bít, khi mà các tác giả là nhân chứng sống, chứng kiến các cuộc đấu tố tại các địa phương đã vượt qua nỗi sợ hãi, đã thẳng thắn viết ra những gì họ nhìn thấy, họ nghe biết.

Trần Đĩnh trong tác phẩm Đèn Cù, khẳng định, tác giả bài báo "Địa chủ Ác ghê" chính là Hồ Chí Minh. Tác giả Nguyễn Văn Trấn, trong cuốn “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” đã kể rằng, có lần ông hỏi ông Tôn Đức Thắng, Phó Chủ Tịch VN Dân Chủ Cộng Hòa, tại sao để cho cải cách ruộng đất giết dân như vậy? Đang ngồi, ông Tôn Đức Thắng bật dậy khỏi ghế, vừa đi vừa văng tục: “ĐM, tao cũng sợ nó, mày biểu tao còn dám nói cái gì.”

Từ sau những đợt đấu tố thanh trừng gây kinh hoàng trên toàn miền Bắc, nhiều học giả, sử gia và nhà nghiên cứu xã hội Việt Nam và ngoại quốc đã chú tâm xem xét toàn bộ thảm kịch. Một nhận định chung cho rằng có hơn 70% người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông là quy sai.  

Trường hợp xử tử bà Nguyễn Thị Năm là một điển hình. Bà Năm là chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hà Nội, mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh. Bà có con trai là Trung Đoàn trưởng một Trung đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà đã hiến 100 lạng vàng cho chính quyền VNDCCH mới thành lập.

Gia đình tôi, khoảng cuối năm 1957 đã vượt biên đến Lào   nhận được thư ông anh tôi gửi từ Hà Tĩnh via (qua) Hong Kong thông báo cho bố mẹ tôi biết CCRĐ đã được sửa sai, bố mẹ tôi đã được trả lại thành phần. Thư có đoạn mong gia đình trở về sum họp. Nhà của bố mẹ tôi gồm ba căn nhà ngang và hai căn nhà dọc, có vườn rộng, nhiều loại cây ăn trái, có vườn cau, ao nuôi cá... bị tịch thu chia cho hai gia đình cố nông chiếm ngụ. Khi có lệnh sửa sai, ông anh tôi là giáo viên, làm đơn xin Ty Giáo dục tỉnh chứng nhận và giới thiệu sang xin bút phê của Uỷ Ban và Công an tỉnh, đem về địa phương xin lại ngôi nhà. Đang lúc có biện pháp sửa sai, để xoa dịu dư luận nên thủ tục lấy lại nhà tương đối dễ dàng. Cuối cùng gia đình ông anh tôi được trở về tổ ấm cũ, có nơi thờ phụng tổ tiên.

Ngày mà đảng cho vào chiếm ngụ nhà tịch thu của địa chủ, những cố nông cốt cán ấy như người trúng số, như nằm mơ, bỗng dưng từ khố rách áo ôm, chui ra chui vào một túp nhà tranh lụp xụp, một sáng một chiều trở thành chủ nhân một tòa nhà rộng rãi khang trang. Hết lời ca ngợi, biết ơn đảng! Ngày phải thu dọn, gom góp mấy cái chén đĩa, nồi niêu, rổ rá sắp vào quang gánh bước ra khỏi nhà, đứng giữa sân, đứng trước ngõ vừa khóc vừa la: “Ơi đảng ơi là đảng! Đảng lừa bịp chúng tôi! Ơi trời ơi là trời! Bây giờ ăn đâu? Ở đâu?...”.
Những người này khi trở lại với công việc làm ăn sinh sống thì đã hai bàn tay trắng, nhà không, vách trống, không nơi nương tựa, không còn nơi để làm thuê, làm mướn, lâm vào cảnh đói rách cùng cực. Có người phải đi hành khất độ nhật, thân xác liệt nhược, chết dần chết mòn thê thảm.

Nhà cửa địa chủ khi lấy lại đã bị phá phách tả tơi. Chạn bếp, bàn thờ đã bị tháo gỡ xuống làm củi. Ngoài vườn, cây cối bị đốn ngã, cưa chẻ làm củi chụm bếp, sưởi ấm mùa đông. Tất cả tiêu điều ngay sau khi chủ nhà bị đuổi ra khỏi.

Trong thời gian CCRĐ, đám bần cố nông cốt cán vung tay lộng hành, vu vạ, trấn áp, cướp của giết người vô tội vạ. Người đi chợ mang bán ít trái cam trái bưởi, vài ký đậu, kí lạc, lỡ gặp đám “cốt cán” là bị gán cho tội “phân tán tài sản” bị tịch thu, cướp đoạt. Bà Thái Thị Trường, vợ một đại úy bộ đội, lúc ấy đang công tác ở Liên Xô, ở nhà bố mẹ bị quy địa chủ, bố vợ chết trong tù, tài sản bị tịch thu. Bà Trường phải chạy chợ, mua từ chợ này bán ở chợ kia kiếm gạo nuôi con. Một hôm bị một cốt cán tên Tý đón đường lục xét lấy hết cả gánh hàng: đậu, bắp, môn khoai và nhiều thứ khác đem về trụ sở Ủy Ban, bảo về xin giấy địa phương chứng nhận, sẽ được trả lại. Hôm sau bà Trường mang giấy chứng nhận tới thì được trả lời “tang vật đã chuyển lên cấp trên!”. Bà Trường gạt nước mắt ra về! Chồng bà Trường sau 1975 là Đại tá làm việc tại QK7. Những “cốt cán” kia đã mồ xanh cỏ từ nhiều năm trước!

Năm 2010, bà Trường được một người cháu gọi bằng dì ruột làm thư mời, bảo lãnh sang Mỹ thăm gia đình cháu tại Boston, Massechussette, trong nhà có quyển Nửa Thế Kỷ VN (ấn bản lần thứ hai), bà đọc quyển sách này, khi đọc đến chi tiết nói về cảnh ngộ của bà thời CCRĐ, đứa cháu cho tôi biết "dì khóc nức nở như đứa trẻ".

Một trường hợp “chết người” khác tiêu biểu trong muôn một những tai ách mà con cháu, gia đình địa chủ phải hứng chịu trong thời kỳ đó: gia đình ông bà Trần Thựu xã Phú Gia, ông tự tử chết chưa quá một trăm ngày, một hôm đứa cháu nội bảy tuổi sang nhà hàng xóm chơi, đám trẻ xúm nhau gọt mía ăn. Đứa con hàng xóm bị đứt tay chảy máu, òa lên khóc. Cha mẹ đứa bé và hàng xóm chạy đến, trong số có Phan Châu, cán bộ cốt cán cho là địa chủ xúi cháu mình chém con nông dân để trả thù. Y ra lệnh bắt bà Thựu giam giữ hành hạ suốt nhiều ngày đêm. Bà Thựu trên 70 tuổi uất nghẹn vì oan ức, trốn ra mồ chồng treo cổ chết.

Vì những hành vi man rợ giữa những người trong cùng chòm xóm không xa lạ gì nhau, đã hãm hại, triệt hạ người khác, nên “Ban sửa sai” đã rất khó khăn trong việc tổ chức những buổi hội họp. Nhiều vụ lộn xộn xẩy ra. Nhiều cảnh xô xát, hoặc hăm dọa thanh toán các cán bộ cốt cán rễ chuỗi để trả thù. Nhiều cuộc họp bất thành, xung đột xẩy ra nhiều nơi giữa cốt cán rễ chuỗi trong CCRĐ và con cái, gia đình những địa chủ uất ức vì người cha bị tử hình hoặc chết trong tù.

Tại vùng Loan Dạ, con cái bà Ngô Hệ vác dao đến chỗ họp rượt chém, đuổi về tận nhà những người trước đó đấu tố, xử tử chồng bà. Các cán bộ rễ chuỗi phải lẩn trốn, không dám xuất hiện. Ban sửa sai đã phải vận dụng mọi cách, đến nhà an ủi, khuyến dụ Bà Ngô Hệ, trả lại thành phần Trung nông, trả lại nhà và vườn, trên nguyên tắc, được tham gia mọi sinh hoạt bình đẳng với nông dân. Các phiên họp sau đó mới tổ chức được yên ổn.

Kết quả sửa sai tại xã Phú Gia, con số trên 20 địa chủ, từ: một án tử hình, một án 20 năm, bốn án 18 năm và các án 5 năm tù, đến các án tịch thu tài sản trong CCRĐ được sửa lại:

- Một địa chủ kháng chiến
- Một địa chủ có công với cách mạng

- Những địa chủ bị quy sai khác được trả lại thành phần Phú nông hoặc Trung nông. [“Phú Gia - Lịch Sử Sự Tích” – sđd].

MIỆT TH Ị VÀ TƯỚC ĐOẠT MỌI QUYỀN SỐNG TỐI THIỂU

Trong CCRĐ, không những bản thân địa chủ bị miệt thị ghê tởm hơn cả súc vật, con cháu địa chủ cũng bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị tước đoạt mọi quyền sống tối thiểu, kể cả quyền tự do luyến ái, tự do hôn nhân.

Trường hợp Nhà thơ Hữu Loan, sau CCRĐ về thăm một gia đình địa chủ từng nuôi đại đội lính do ông chỉ huy, gặp người con gái của gia đình địa chủ này sống vất vưởng, không nơi nuơng tựa, hàng ngày ra đồng mót lúa, mót khoai sinh sống. Nhà thơ đã đưa cô gái về giúp đỡ, bảo bọc. Về sau cưới làm vợ.

Trong CCRĐ, theo chủ trương của đảng, những "công tử", "tiểu thư" ngày nào của các gia đình địa chủ đều bị xã hội hất hủi, đuổi xua, xa lánh. Con trai không thể lấy vợ, con gái không thể lấy chồng là người mình yêu thương.
 
Nhà thơ Tạ Hữu Thiện có một bài thơ đăng trên Nhân Văn, Giai Phẩm. Bài thơ "hiền hòa", diễn tả tâm sự của một chàng
tuổi trẻ "đi tìm tình yêu", với những ẩn dụ để phản đối chính sách kỳ thị giai cấp trong yêu đương. Bài thơ tôi đọc được năm 1958, còn nhớ được một phần như sau:

Ai lớn lên không từng yêu đương/ Ai biết yêu không từng hò hẹn/ Việc ấy lẽ thường/ Tôi đã từng yêu từng chán nản/ Chưa bao giờ thấy nguội con tim/ Chưa bao giờ thỏa mãn/ Khao khát em tôi vẫn gắng công tìm/Thật thà/ tôi chẳng biết cân nhắc thành phần/ Cũng chẳng dại làm điều vô ích/ Ra mình kén cá chọn canh/ Vì tình yêu đời đời đâu có phải/ Là bốn bài trừ cộng chia nhân...

Tác giả xác nhận đang yêu, yêu tha thiết, dù bị cấm cản vẫn theo đuổi mối tình đã chọn lựa, vẫn "khao khát" yêu thương và vẫn quyết tìm đến với người yêu. Đoạn cuối của bài thơ, tác giả khẳng định bất chấp chính sách phân biệt đối xử thành phần, không chấp nhận sự cấm đoán cuộc hôn nhân đôi lứa.

Hai câu cuối "Vì tình yêu đời đời đâu có phải / Là bốn bài trừ cộng chia nhân", ý nói tình yêu muôn đời không có tính toán chi li. Nhưng ẩn dụ tác giả muốn nhắn nhủ, rằng - tình yêu đâu phải là vũ khí diệt cộng (trừ cộng).  Tác giả Tạ Hữu Thiện ít làm thơ, nhưng đây một trong những bài thơ trên Nhân Văn, Giai phẩm, bên cạnh thơ Trần Dần, Phùng Quán mà tôi tâm đắc.


NHỮNG THỐNG KÊ
SỐ NGƯỜI BỊ HÀNH QUYẾT

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường trong bài diễn văn đọc tại cuộc họp Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội ngày 30 tháng Mười 1956, cho rằng cuộc Cải Cách Ruộng Đất được thực hiện với hương châm "thà giếtoan 10 người còn hơn để sót một địch"; phương châm này đi ngược lại với quy tắc cơ bản của pháp luật "thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan". Tất cả những nguyên tắc pháp lý ở một xã hội văn minh, dân chủ đã không được áp dụng khi kết tội và xét xử trong CCRĐ cũng như dưới thể chế cộng sản từ năm 1956 đến nay. Số lượng người bị giết trong Cải Cách Ruộng Đất không thể thống kê chính xác và còn gây tranh cãi. Tuy nhiên, đã có những con số được thảo luận và đồng ý do các nhân chứng, các nhà nghiên cứu, kể cả các tài liệu do chính đảng cộng sản đưa ra.

Theo nhật báo “Nhân Dân” của CSVN ngày 20/7/1955, sau 6 đợt cải cách ruộng đất có 10.303.004 (mười triệu ba trăm lẻ ba ngàn không trăm lẻ bốn) nạn nhân. Nếu tính nạn nhân là bản thân địa chủ bao gồm cả gia đình và con cháu thì con số 10 triệu 300 ngàn này là khá chính xác.

Theo bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945 - 2000” do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, số người bị đấu tố lên đến 172.008 người, và sau giai đoạn sửa sai xác định trong tổng số đó có đến 132.266 người bị oan.

Hòa Thượng Thích Quảng Độ sau khi tiếp xúc với các nhân chứng và cán bộ CCRĐ cho biết con số nạn nhân lên tới khoảng 750.000 người (Phim tài liệu Cải Cách Ruộng Đất:
https://www.youtube.com/watch?v=GDIBQAqBMEM (Preview)


Con số 172.008 địa chủ bị đấu tố, hành quyết cũng được ghi nhận trong bài “Land Reform in Vietnam” (Wikipedia, the Encyclopedia): http://en.wikipedia.org/wiki/Class_enemies
[Xem Phụ Lục 1 “Land Reform in Vietnam” trang 519]